Tên đăng nhập: Mật khẩu: Đăng ký || Quên mật khẩu
Lê Nhật Bảo's forum

Tư vấn pháp lý

TƯ VẤN PHÁP LÝ CHUYÊN NGHIỆP 24/24 LIÊN HỆ: 01688793966 MR. Lê Nhật Bảo.

You are not connected. Please login or register

Go downMessage [Page 1 of 1]

on Sat Apr 14, 2012 8:51 pm
avatar
avatar

I. KHÁI NIỆM
1. Định nghĩa
a. Giải thích một số thuật ngữ cơ bản liên quan đến luật quốc tế
- Luật Quốc tế hiện đại: Là luật quốc tế hình thành sau Cách mạng tháng Mười
Nga năm 1917 đến nay.
- Luật Quốc tế Xã hội chủ nghĩa: Là khái niệm xuất hiện sau khi có hệ thống
XHCN thế giới và mất đi cùng với sự tan rã của hệ thống đó. Nó bao gồm các
nguyên tắc và quy phạm pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa các nước trong cộng đồng
XHCN, các quan hệ này có tính chất đặc biệt thể hiện sự hợp tác và nhân nhượng
cao hơn so với các quan hệ khác. Hiện nay, Luật quốc tế XHCN không còn tồn tại
cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Quan hệ giữa các nước XHCN với nhau và
với các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay đều được giải quyết trên cơ sở Luật quốc
tế hiện đại.
- Luật quốc tế chung: Là khái niệm dùng để chỉ tổng hợp những nguyên tắc và qui
phạm pháp lý quốc tế được thừa nhận rộng rãi và có giá trị bắt buộc chung đối
với các quốc gia, không phận biệt chế độ chính trị, kinh tế, xã hội...
- Luật quốc tế khu vực: Là tổng hợp những nguyên tắc và qui phạm pháp lý dùng
để điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, các Chính phủ trong cùng khu vực
địa lý, cùng xu hướng chính trị hoặc tôn giáo...(EU, ASEAN...).
- Công pháp quốc tế: Là ngành luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ chính trị,
văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật...nảy sinh giữa các quốc gia trong quan hệ
hợp tác với nhau. Tên gọi này cũng nhằm phân biệt với một ngành luật khác điều
chỉnh các quan hệ dân sự mở rộng trong hệ thống pháp luật quốc gia, đó là tư
pháp quốc tế. Trong tác phẩm Luật quốc tế của Openhem chỉ ra rằng "Công
pháp quốc tế phát sinh khi chúng ta đặt các quốc gia cạnh nhau, tư pháp quốc tế
phát sinh khi đặt các hệ thống pháp luật cạnh nhau".
- Tư pháp quốc tế: là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc gia điều
chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, như: quan hệ lao động, quan hệ
hợp đồng...
- Luật quốc tế: đây là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất hiện
nay, và được ghi nhận trong hầu hết các văn kiện pháp lý quan trọng của hầu hết
các quốc gia, trong đó có Việt nam.
b. Định nghĩa
(Giải thích thêm: Về tổng thể, các thuật ngữ nêu trên đều mang nghĩa là chỉ hệ
thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ quốc tế phát sinh
giữa các chủ thể Luật quốc tế. Hệ thống các nguyên tắc và qui phạm này mang
tính chất là một hệ thống pháp luật độc lập, tồn tại song song với hệ thống
pháp luật của từng quốc gia. Hiện nay, với xu thế quốc tế hóa mọi mặt của đời
sống quốc tế ở cả hai cấp độ khu vực và toàn cầu, luật quốc tế thực sự là kết
quả và là sự phản ánh sâu sắc các quan hệ hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và
các chủ thể khác của luật quốc tế).
"
Như vậy, Luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, được
các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận tạo dựng nên, trên cơ
sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc
gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực vủa đời sống quốc tế. Đó là các nguyên
tắc và quy phạm áp dụng chung mà không có sự phân biệt về tính chất, hình thức
hay vị thế của từng quốc gia khi thiết lập quan hệ quốc tế giữa những chủ thể
này với nhau.
2. Đặc trưng của Luật quốc tế
a. Đặc trưng về chủ thể
(Câu hỏi đặt ra: Chúng ta biết rằng, chủ thể của pháp luật quốc gia là các thể
nhân, pháp nhân và cơ quan nhà nước. Vậy, LQT có những chủ thể nào? Có sự khác
biệt gì giữa chủ thể LQT và chủ thể LQG?)
Chủ thể của LQT là các thực thể có quyền năng chủ thể để tham gia vào các quan
hệ pháp lý quốc tế một cách độc lập, bao gồm:
• Các quốc gia độc lập, có chủ quyền: (Câu hỏi đặt ra: Theo bạn, quốc gia phải
có các yếu tố nào để trở thành chủ thể LQT?) Thông thường bao gồm các yếu tố
sau:
- Lãnh thổ xác định (liên quan đến lãnh thổ quốc gia sẽ có một bài nghiên cứu rất
kỹ tại học phần II)
- Dân cư thường xuyên sinh sống
- Có chính quyền thống nhất từ trung ương xuống địa phương
- Có chủ quyền quốc gia
Từ những đặc điểm nêu trên của quốc gia,
chúng ta có thể thấy rằng cá" nhân hay pháp nhân trong pháp luật quốc gia không
thể đáp ứng được các đặc điểm không thể
là chủ thể của LQT)."này
VD: Đài Loan không phải là một quốc gia độc lập có chủ quyền vì thiếu yếu tố
lãnh thổ.
• Tổ chức quốc tế liên chính phủ: Trước tiên, chúng ta hãy cùng xem xét điều
kiện để 1 TCQT trở thành chủ thể của LQT là gì? Đó là, TCQT đó phải có: cơ cấu
tổ chức bộ máy riêng; hoạt động một cách thường xuyên, liên tục và có tư cách
độc lập khi tham gia vào các mối quan hệ quốc tế.
- Hiện nay, khi nói đến các TCQT người ta thường nhắc đến 2 loại hình tổ chức
quốc tế, đó là TCQT liên chính phủ và TCQT phi chính phủ (Câu hỏi: TCQT như nào
được gọi là TCQT liên chính phủ? TCQT như nào được gọi là TCQT "phi
chính phủ? TCQT mà thành viên của nó là các quốc gia độc lập, có chủ quyền TCQT liên chính phủ (LHQ, EU, ASEAN...), TCQT
mà thành viên của nó là các chủ TCQT phi
chính phủ (WHO, ILO, FAO, FIFA...). Dấu"thể khác (không phải
quốc gia) hiệu để nhận biết thành viên của TCQT đó là quốc gia hay không thể
hiện ở chỗ, các phái đoàn tham gia các TCQT đó không phải nhân danh bất kỳ một
cá nhân hay TCQT là sản phẩm của các
quốc"pháp
nhân nào mà nhân danh chính quốc gia mình
gia sáng lập ra nó).
• Các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết: Khái niệm "dân
tộc" ở đây được hiểu là bộ phận dân tộc đại diện cho quốc gia, chứ không
phải dân tộc theo nghĩa là một "chủng tộc" hay một "sắc
tộc" đơn lẻ. Dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết khác với
các dân tộc độc lập khác ở chỗ nó chỉ có chủ quyền dân tộc nhưng chưa có chủ
quyền quốc gia.
VD: Palextin, Việt Nam trước năm 1945...
Nhận xét: Các chủ thể của LQT[ luôn
bình đẳng và "ngang bằng"với nhau khi tham gia vào quan hệ pháp luật
quốc tế. Ngoài các chủ thể chính nêu trên, hiện nay trong LQT hiện đại còn xuất
hiện một số các chủ thể đặc biệt khác như: Tòa thánh Vaticăng, Đài Loan, Hồng
Kông, Ma Cao...mặc dù chúng không được xếp vào một trong những nhóm chủ thể nêu
trên của LQT, nhưng do tính chất đặc thù nên cộng đồng quốc tế vẫn thừa nhận
việc tham gia vào một số các điều ước quốc tế liên quan đến các vấn đề thương
mại, khoa học - kỹ thuật...của các thực thể này.
b. Đặc trưng về quan hệ do luật quốc tế điều chỉnh
- Dưới góc độ pháp luật quốc tế: Quan hệ do LQT điều chỉnh là quan hệ giữa các
quốc gia hoặc các thực thể khác của LQT.
- Khác với các quan hệ do luật quốc gia điều chỉnh, quan hệ thuộc phạm vi tác
động của LQT là quan hệ mang tính chất liên quốc gia, liên chính phủ, phát sinh
trong bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống quốc tế. Những quan hệ đó đòi hỏi phải
được điều chỉnh bằng các quy phạm luật quốc tế. Tuy nhiên, không phải tất cả
các quan hệ quốc tế đều là đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế.
VD: Các hợp tác kinh tế-quốc tế của Việt Nam hiện nay rất đa dạng, trong quan
hệ kinh tế mà một bên Đây không phải là"
Việt Nam với một bên là một tập đoàn kinh tế nước ngoài quan hệ do luật quốc tế điều chỉnh.
c. Đặc trưng về sự hình thành luật quốc
tế

(Câu hỏi: quá trình xây dựng các qui phạm LQT có khác gì so với quá trình xây
dựng các qui phạm luật quốc gia? Trong quan hệ quốc tế có tồn tại cơ quan lập
pháp, hành pháp hay không?)
- Đây là đặc điểm chỉ tìm thấy trong quá trình xây dựng các nguyên tắc và quy
phạm pháp lý của LQT. Thông thường, hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia chủ yếu
do các cơ quan lập pháp (quốc hội, nghị thể
hiện sâu sắc tính giai cấp và tính xã hội. Tuy nhiên, trong"viện)
ban hành không có"quan
hệ quốc tế, do các chủ thể LQT bình đẳng với nhau về chủ quyền cơ quan quyền lực nào có thể đứng trên các
quốc gia để ấn định, hay áp đặt ý chí của mình cũng như các quy phạm pháp lý
buộc các quốc gia phải tuân theo. Thay vào đó, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận
thỏa thuận là phương thức duy nhất để hình thành hệ thống các nguyên tắc và quy
phạm pháp lý quốc tế. Thông thường hoạt động xây dựng pháp luật quốc tế thường
thông qua hai giai đoạn, giai đoạn thỏa thuận của các quốc gia về nội dung quy
tắc và giai đoạn thỏa thuận công nhận tính ràng buộc của các quy tắc đã hình
thành. Việc hình thành các quy phạm pháp luật quốc tế theo hai giai đoạn này
không nhằm tạo ra ý chí tối cao, duy nhất mà là sự tự nguyện thỏa thuận của các
quốc gia dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền.
Câu hỏi: Vậy, tại sao các quốc gia có nền kinh tế, có xu hướng chính trị khác
nhau lại có thể cùng nhau thỏa thuận xây dựng nên các nguyên tắc và quy phạm
LQT? Sở dĩ các quốc gia đạt được sự thoả thuận này tất cả đều xuất phát từ lợi
ích của chính họ. Các quy phạm LQT được hình thành là kết quả của sự thỏa
thuận, tự nguyện, và nhượng bộ lẫn nhau giữa các chủ thể, hướng đến lợi ích
quốc gia, dân tộc, cũng như vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.
d. Đặc trưng về sự thực thi LQT
(Câu hỏi: Sự thực thi LQT khác gì sự thực thi LQG? Tại sao?)
Cũng như pháp luật trong nước, LQT cũng có các biện pháp chế tài và các quy
định bắt buộc nhằm đảm bảo cho quá trình thực thi LQT của các chủ thể khi tham
gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế.
- Cơ chế cưỡng chế: là tổng thể các biện pháp, cách thức, bộ máy...nhằm đảm bảo
quá trình tuân thủ LQT.
- Quá trình thực thi LQT: Trong đời sống quốc tế khi có hành vi vi phạm, ai hay
tổ chức nào sẽ đứng ra để áp dụng các biện pháp trừng phạt? Khác với sự thực
thi luật quốc gia, luật quốc tế do không có cơ quan chuyên trách lập pháp, do
đó cũng không tồn tại các cơ quan hành pháp như nhà tù, quân đội, cảnh sát...để
tiến hành các biện pháp cưỡng chế. Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của LQT
là hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về chủ
quyền, nên các chủ thể không có quyền xét xử và cưỡng chế nhau. Do đó, khi xuất
hiện hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, thì chính các chủ thể của luật quốc tế
sẽ tiến hành áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo 2 hình thức: được gọi là cơ chế tự cưỡng chế."riêng
lẻ hoặc tập thể
VD: trong quá trình Việt"thực
hiện Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ. Nếu Mỹ có hành vi vi phạm Nam và cộng đồng quốc tế sẽ áp dụng các biện
pháp cưỡng chế.
- Các biện pháp chế tài chủ yếu là:
+ Tự vệ hợp pháp
+ Trả đũa
+ Cắt đứt quan hệ ngoại gia, quan hệ thông tin liên lạc...
+ Bao vây cấm vận kinh tế
+ Sử dụng lực lượng vũ trang
Yêu cầu đặt ra đối với sinh viên: từ
những đặc[(
điểm nêu trên, so sánh quá trình xây dựng pháp luật quốc tế với việc xây dựng
hệ thống pháp luật quốc gia).
3. Bản chất pháp lý của Luật quốc tế
- Từ những đặc điểm nêu trên có thể thấy rằng, LQT là kết quả của quá trình vừa
hợp tác, vừa cạnh tranh và nhân nhượng lẫn nhau giữa các chủ thể LQT để mỗi bên
đều đạt được lợi ích của sự hợp tác. Vì vậy, LQT không phản ánh ý chí duy nhất
của một quốc gia mà là ý chí thỏa thuận của nhiều quốc gia khác nhau trên cơ sở
lợi ích riêng của từng quốc gia. Kết quả của ý chí thỏa thuận này được quy định
bởi tương quan lực lượng giữa các bên khi tham gia vào xây dựng các nguyên tắc
và quy phạm pháp luật quốc tế cụ thể.
- Hiện nay, LQT đang phát triển theo xu hướng ngày càng dân chủ và tiến bộ hơn,
đảm bảo được quyền lợi và lợi ích chung của toàn thể nhân loại. Điều này thể
hiện ở chỗ:
+ LQT hiện đại hủy bỏ các nguyên tắc, quy phạm không dân chủ, không tiến bộ của
LQT cũ (cho phép áp dụng chiên stranh để giải quyết các tranh chấp quốc tế...);

+ LQT hiện đại bổ sung, hoàn thiện các nguyên tắc, quy phạm của LQT cũ theo xu
hướng dân chủ và tiến bộ hơn (LQT cũ có nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các
quốc gia. Trên thực tế, nguyên tắc này chủ yếu được áp dụng để điều chỉnh quan
hệ hợp tác giữa các quốc gia văn minh với nhau. Hiện nay, nguyên tắc này được
áp dụng chung cho tất cả các quốc gia trên thế giới);
+ LQT hiện đại đưa ra các nguyên tắc, các quy phạm hoàn toàn mang tính dân chủ
và tiến bộ mới.
- So sánh với bản chất của pháp luật quốc gia ta thấy: Luật quốc gia phản ánh
và đáp ứng nhu cầu lợi ích của giai cấp thống trị nhà nước đó, vì vậy, mọi sự
phát triển, thay đổi của pháp luật quốc gia đều xuất phát từ ý chí của nhà nước
khi thực hiện chủ quyền quốc gia trong các mối quan hệ đối nội, đối ngoại. Đặc
trưng của pháp luật quốc gia không phải là sự thỏa thuận trên cơ sở bình đẳng,
tự nguyện về ý chí, mà là tính giai cấp, tính xã hội và là sự thể hiện sâu sắc
ý chí của giai cấp cầm quyền. Còn LQT là luật của cả cộng đồng quốc tế, nó
không bàn đến vấn đề ý chí giai cấp, không có sự phân biệt đối xử giữa các quốc
gia, mà chủ yếu là sự thể hiện ý chí chung của các chủ thể LQT.
4. Lịch sử thình thành và phát triển của Luật quốc tế
LQT ra đời và phát triển cùng với quá trình xuất hiện nhu cầu thiết lập các mối
quan hệ bang giao giữa các quốc gia với nhau. Theo đó, cùng với quá trình phát
triển của nhà nước và pháp luật qua các thời kỳ khác nhau, LQT cũng có lịch sử
hình thành, phát triển và hoàn thiện qua 4 giai đoạn chính là:
- LQT Cổ đại
- LQT Trung đại
- LQT Cận đại
- LQT Hiện đại
a. Luật quốc tế Cổ đại
- Sự ra đời: LQT cổ đại hình thành đầu tiên ở khu vực Lưỡng Hà và Ai Cập, rồi
sau đó là một số khu vực khác như Ấn Độ, Trung Quốc và ở phương tây như Hy Lạp,
La Mã...
- Đặc điểm: Hình thành trên nền tảng kinh tế thấp kém, quan hệ giữa các quốc
gia yếu ớt, rời rạc, lại bị cản trở bởi điều kiện tự nhiên và phát triển xã hội
rất hạn chế nên LQT thời kỳ này mang tính khu vực là chủ yếu và hầu như chỉ
được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ về chiến tranh.
- Nguồn luật điều chỉnh: chủ yếu sử dụng các luật lệ và tập quán
- Đóng góp vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế: Mặc dù pháp
luật quốc tế thời kỳ này còn bó hẹp trong phạm vi của từng khu vực nhất định,
tuy nhiên nội dung các quy phạm thời kỳ này đã đặt nền móng cho sự ra đời của
Luật Nhân đạo quốc tế sau này. Ngoài ra, do nhu cầu thiết lập các quan hệ là"bang giao giữa các quốc gia nên việc trao đổi các
sứ thần bắt đầu hình thành cơ sở cho các quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao sau
này.
b. Luật quốc tế Trung đại
- Sự ra đời: Khoa học-kỹ thuật bắt đầu phát triển, ranh giới giữa nhà nước và
tư nhận bắt đầu bị xóa nhòa, sở hữu nhà nước thuộc về những người đứng đầu nhà
nước. Ở thời kỳ này tôn giáo rất phát triển.
- Đặc điểm: LQT trong thời kỳ này đã có những bước phát triển nhất định, do nhu
cầu phát triển kinh tế, khoa học-kỹ thuật nên tính khu vực trong thời kỳ này
dần bị phá vỡ và thay vào đó là các quan hệ có tính liên khu vực trong quan hệ
giữa các quốc gia. Cũng trong thời kỳ này, bên cạnh những vấn đề chiến tranh,
sự hợp tác của các quốc gia còn mở rộng sang một số lĩnh vực khác như: kinh tế,
chính trị...
- Nguồn luật điều chỉnh: Bao gồm nguồn luật tập quán và điều ước quốc tế.
- Đóng góp vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế: Sang thời kỳ
này, LQT đã có những bước hoàn thiện nhất định với sự xuất hiện của các quy
phạm và chế định về Luật Biển, về quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao và việc xuất
hiện cơ quan thường trực của quốc gia tại quốc gia khác. Đây là những tiền đề
quan trọng cho quá trình phát triển LQT hiện đại sau này.
c. Luật quốc tế Cận đại
- Sự ra đời: Quan hệ quốc tế phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau và là
thời kỳ LQT phát triển tương đối rực rỡ.
- Đặc điểm: Đây là thời kỳ các quốc gia tăng cường mối quan hệ hợp tác trên hầu
hết các lĩnh vực của đời sống quốc tế, là thời kỳ LQT được phát triển trên cả
hai phương diện luật thực định và khoa học pháp lý quốc tế.
- Nguồn luật điều chỉnh: Tập quán quốc tế và điều ước quốc tế
- Đóng góp vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế: Đây là thời kỳ
ghi nhận sự hình thành các nguyên tắc mới của LQT như: nguyên tắc bình đẳng về
chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Tuy nhiên, đóng góp
quan trọng nhất là sự ra đời của các tổ chức quốc tế đầu tiên đánh dấu sự liên
kết và ràng buộc có tính cộng đồng quốc tế của các quốc gia như: Liên minh điện
tín quốc tế (1865), Liên minh bưu chính thế giới (1879)....
- Hạn chế: vẫn còn tồn tại những học thuyết, những quy chế pháp lý phản động,
bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế như chế độ thuộc địa, tô giới...
d. Luật quốc tế Hiện đại
- Cơ sở hình thành và phát triển: Đây là thời kỳ quan hệ hợp tác quốc tế diễn
ra vô cùng mạnh mẽ cùng với sự xuất hiện của xu thế toàn cầu hóa và liên kết
khu vực trong những thập kỷ sau của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI
- Đặc điểm: LQT thời kỳ này phát triển hết sức đa dạng, các lĩnh vực hợp tác đã
mở rộng sang hầu hết các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa...Đây cũng là
thời kỳ ghi nhận một loạt các nguyên tắc tiến bộ của LQT như: nguyưen tắc cấm
dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, dân tộc tự quyết, hòa
bình giải quyết các tranh chấp quốc tế...song song với đó là sự phát triển hiện
đại về nội dung của nhiều nghành luật như: Luật Biển quốc tế, Luật hàng không
quốc tế...Đặc biệt, trong thời kỳ này LQT đã bắt đầu xuất hiện những chế định
mới không mang tính truyền thống như: hợp tác chống khủng bố quốc tế..Đây cũng
là thời kỳ ghi nhận sự ra đời của hành loạt các tổ chức quốc tế toàn cầu, khu
vực hay liên khu vực như: LHQ, ILO, ICAO, FAO, WHO, WIPO, ASEAN...
Mặc dù còn tiềm ẩn những hành vi vi phạm
pháp luật[
quốc tế, nhưng LQT hiện nay đang phát triển theo xu hướng ngày càng bình
đẳng tạo ra tiền đề quan trọng cho việc[hơn
giữa các chủ thể LQT so với trước đây
tham gia một cách rộng rãi vào các tổ chức quốc tế của các quốc gia trên
thế giới.
II. QUY PHẠM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
1. Khái niệm
a. Định nghĩa
- Trong khoa học LQT, quy phạm LQT là quy tắc xử sự, được tạo ra bởi sự thỏa
thuận của các chủ thể LQT và có giá trị ràng buộc các chủ thể đó đối với các
quyền, nghĩa vụ hay trách nhiệm pháp lý quốc tế khi tham gia quan hệ pháp luật
quốc tế.
b. Phân loại: có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng chủ yếu dựa trên các căn
cứ sau:
• Căn cứ vào giá trị hiệu lực:Quy phạm pháp luật quốc tế được chia thành:
- Quy phạm mệnh lệnh chung (Jus Cogens): Đây là loại quy phạm tối cao của LQT,
có hiệu lực đối với mọi chủ thể, mọi mối quan hệ pháp luật quốc tế. Các quốc
gia có nghĩa vụ phải tuân thủ tuyệt đối và không được thay đổi nội dung của các
quy phạm này và hành vi nhằm tự ý thay đổi chúng bị coi là vô hiệu ngay từ đầu.

VD: Quy phạm này quy định tội phạm chiến tranh là tội ác các quốc gia không được tự ý thay đổi nội
dung"quốc
tế và phải bị trừng phạt của quy phạm
này để áp dụng.
Tuy nhiên, các quy phạm Jus Cogens vẫn
có thể"
bị hủy bỏ hoặc bị thay thế bởi một quy phạm Jus Cogens mới về cùng một vấn đề.
VD: Trong LQT cổ đại "quyền tiến hành chiến tranh" là một quy phạm
Jus Cogens. Tuy nhiên, quy phạm này đã bị thay thế bằng một quy phạm Jus Cogens
mới đó là nguyên tắc "cấm đe dọa dùng vũ lực và dùng vũ lực trong quan hệ
quốc tế".
- Quy phạm tùy nghi: Vẫn là quy phạm pháp luật quốc tế nhưng cho phép mỗi quốc
gia trong khả năng của mình được phép xác định phạm vi quyền, nghĩa vụ và trách
nhiệm pháp lý quốc tế trong một khung nhất định.
VD: Trong vùng lãnh hải, Luật biển quốc tế cho phép quốc gia ven biển tự mình
xác định chiều rộng lãnh hải, nhưng không phải xác định tùy ý mà phải trong
giới hạn xác định không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở.
Quy phạm Jus Cogens hay quy phạm tùy[ nghi
đều có thể thay đổi dựa trên cơ sở sự thỏa thuận.
• Căn cứ vào hình thức thể hiện
- Quy phạm điều ước quốc tế (quy phạm thành văn): là những quy phạm được ghi
nhận chính thức trong các điều ước quốc tế.
- Quy phạm tập quán quốc tế (quy phạm bất thành văn): là những quy phạm được
chứa đựng trong tập quán quốc tế, chiếm số lượng nhỏ hơn và thường được áp dụng
trong các lĩnh vực hợp tác truyền thống vì nó được áp dụng trong thời gian dài,
và được lặp đi lặp lại nhiều lần và trở thành tập quán.
Ngoài ra, trong quan hệ quốc tế"
còn tồn tại một số quy phạm hỗn hợp, là loại quy phạm có thể tồn tại dưới cả 2
hình thức thành văn và bất thành văn.
VD: Nguyên tắc "tự do biển cả" trong Luật Biển quốc tế 1982. Đây là
nguyên tắc được ghi nhận trong công ước Luật biển với tư cách là điều ước quốc
tế, nhưng nó cũng tồn tại với tư cách là tập quán quốc tế.
• Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh
- Quy phạm điều chỉnh quan hệ chính trị
- Quy phạm điều chỉnh quan hệ kinh tế
- Quy phạm điều chỉnh quan hệ văn hóa...
• Căn cứ vào chủ thể của các quy phạm
- Quy phạm song phương: được 2 chủ thể LQT thỏa thuận xây dựng nên hoặc thừa
nhận và chỉ được áp dụng trong quan hệ của 2 chủ thể này.
- Quy phạm đa phương: là những quy phạm được xây dựng từ 3 chủ thể trở lên. Gồm
quy phạm khu vực và quy phạm phổ cập.
2. Phân biệt quy phạm pháp luật quốc tế và các loại quy phạm khác
- Quy phạm chính trị: Là những quy phạm được ghi nhận trong các văn kiện quốc
tế, chúng không có hiệu lực pháp lý quốc tế, cũng không có giá trị ràng buộc
các quốc gia nhưng chúng là cơ sở để hình thành nên quy phạm LQT.
- Quy phạm đạo đức quốc tế: Là những quy tắc xử sự, những chuẩn mực quốc tế
được cộng đồng quốc tế xây dựng nên, thể hiện cách xử sự công bằng hợp lý mà
các quốc gia cần phải thực hiện trong quan hệ quốc tế. Nhìn chung, trong quan
hệ quốc tế, quy phạm đạo đức quốc tế cũng không có hiệu lực pháp lý quốc tế, nhưng
lại được các quốc gia thực thi và tuân thủ rất nghiêm chỉnh trong thực tiễn
quan hệ quốc tế.
III. NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
1. Khái niệm
a. Định nghĩa: Nguồn của pháp luật là hình thức biểu hiện của các quy phạm pháp
luật. nguồn của pháp luật biểu hiện dưới 2 dạng thành văn và bất thành văn.
Liên quan đến nguồn của LQT có nhiều cách hiểu khác nhau.
- Theo nghĩa hẹp: nguồn là hình thức chứa đựng, ghi nhận các nguyên tắc, các
quy phạm pháp lý quốc tế nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể
khi tham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế. Theo đó, LQT gồm 2 loại nguồn cơ
bản là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế.
- Theo nghĩa rộng: nguồn của LQT là tất cả những cái mà cơ quan có thẩm quyền
có thể dựa vào đó để đưa ra các quyết định pháp luật.
b. Cơ sở pháp lý xác định nguồn
- Khoản 1 điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế của LHQ quy định"Tòa án
có trách nhiệm giải quyết các vụ tranh chấp được chuyển đến tòa án trên cơ sở
công pháp quốc tế theo:
- Các công ước quốc tế chung hoặc riêng đã thiết lập ra những nguyên tắc được
các bên đang tranh chấp thừa nhận.
- Các tập quán quốc tế như là một chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận là
một tiêu chuẩn pháp lý.
- Những nguyên tắc pháp lý được các dân tộc văn minh thừa nhận.
- ...các Nghị quyết xét xử và các luận thuyết của các chuyên gia có chuyên môn
cao nhất về luật pháp công khai của nhiều dân tộc khác nhau được coi là các
phương tiện bổ trợ để xác định các tiêu chuẩn pháp lý."
Nhận xét: Như vậy,[ Điều
38(1) Quy chế tòa án công lý quốc tế đã đưa ra danh sách các nguồn truyền thống
của LQT như: các công ước quốc tế chung hoặc cụ thể, tập quán quốc tế, các
nguyên tắc cơ bản của LQT, các quyết định của tòa án và các bài giảng của các
học giả có chuyên môn cao. Tuy vậy, Điều 38(1) chưa đề cập một cách đầy đủ các
loại nguồn bổ trợ của luật quốc tế. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, ngoài các
loại nguồn đã nêu trong điều 38(1) các chủ thể LQT còn thừa nhận một số các
nguồn khác, có tính chất là nguồn bổ trợ cho nguồn cơ bản của LQT như: Nghị quyết
của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành vi pháp lý đơn phương của các quốc
gia...Do đó, ngoài điều 38(1), thực tiễn áp dụng nguồn của các chủ thể LQT cũng
là cơ sở để hình thành các loại nguồn của LQT.
c. Phân loại: 2 loại nguồn
- Nguồn cơ bản: chủ yếu bao gồm điều ước quốc tế (nguồn thành văn) và tập quán
quốc tế (nguồn bất thành văn).
- Nguồn bổ trợ: đây là các phương tiện bổ trợ nguồn của LQT, chúng bao gồm các
phán quyết của tòa án công lý quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung, nghị
quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành vi pháp lý đơn phương của các
quốc gia, các học thuyết của các học giả danh tiếng về LQT.
2. Nguồn cơ bản
a. Điều ước quốc tế (không đề cập quá sâu vì sẽ được đề cập tại Bài 3: Thực thi
Luật quốc tế)
Khái niệm: Theov Công ước Viên năm 1969 về
Luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia thì điều ước quốc tế được xác
định là "một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia
và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy
nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên
gọi riêng của nó là gì".
Như vậy, với tư cách là[
nguồn cơ bản của LQT, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của
LQT với nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm thiết lập những quy tắc pháp
lý bắt buộc gọi là những quy phạm LQT, để ấn định, thay đổi hoặc hủy bỏ những
quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Trong quan hệ quốc tế hiện nay, điều ước quốc
tế chủ yếu được trình bày dưới dạng thành văn, nhưng cũng một số điều ước quốc
tế chỉ là thỏa thuận miệng - đó là các điều ước quân tử. Tuy nhiên, hiện nay
các điều ước quân tử hầu như rất ít xuất hiện trong quan hệ giữa các chủ thể
LQT.
v
Điều kiện để một điều ước quốc tế trở thành nguồn của LQT: Không phải tất cả
các điều ước quốc tế được ký kết đều là nguồn của LQT. Một điều ước muốn trở
thành nguồn của LQT phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Điều ước đó phải được ký kết dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng;
- Nội dung của điều ước phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản và các quy
phạm Jus Cogens của LQT;
- Điều ước đó phải được ký kết phù hợp và tuân theo các quy định có liên quan
của pháp luật của các bên ký kết về thẩm quyền và thủ tục ký kết.
(Câu hỏi: mọi văn bản pháp lý quốc tế
đều là điều ước quốc tế? Sai. Nếu văn bản pháp lý quốc tế đó không phải là điều ước quốc tế
)."không
thỏa mãn 1 trong 3 điều kiện nêu trên
Ý nghĩa, vai trò của điều ước quốc tế:
Xuất phát từ bản chất của điều ướcv là sự thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp lý
quốc tế, điều ước quốc tế có ý nghĩa:
- Là hình thức pháp luật cơ bản chứa đựng các quy phạm LQT để xây dựng và ổn
định các cơ sở pháp luật cho các quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và phát
triển.
- Là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì và tăng cường các quan hệ hợp
tác quốc tế giữa các chủ thể.
- Là đảm bảo pháp lý quan trọng cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ thể
LQT.
- Là công cụ để xây dựng khung pháp luật quốc tế hiện đại, cũng như để tiến
hành hiệu quả việc pháp điển hóa LQT.
b. Tập quán quốc tế
Định nghĩa: So với điềuv ước
quốc tế, tập quán quốc tế ra đời sớm hơn. Đó là những quy tắc xử sự chung ban
đầu do một hay một số quốc gia đưa ra và áp dụng trong quan hệ với nhau. Sau
một quá trình áp dụng lâu dài, rộng rãi và được nhiều quốc gia thừa nhận như
những qui phạm pháp lý nên những qui tắc xử sự đó đã trở thành tập quán quốc
tế. Vậy, tập quán quốc tế là những qui tắc xử sự chung, hình thành trong thực
tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận rộng rãi là
những qui tắc có tính chất pháp lý bắt buộc.
VD: Hành vi phóng tàu vũ trụ qua không phận của các nước láng giềng được cộng
đồng quốc tế thừa nhận là hành vi được
áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần và trở thành tập quán"không cần xin
phép quốc tế.
Đặc điểm: Từ định nghĩa nêu trên, chúng
ta có thể thấy tập quánv quốc tế có những đặc điểm sau:
- Về hình thức: Quy phạm tập quán quốc tế tồn tại dưới dạng các hành vi xử sự
của các chủ thể LQT. Do đó, tập quán quốc tế luôn ở dạng bất thành văn.
- Về nội dung: tập quán quốc tế có nội dung là các nguyên tắc và quy phạm tập
quán quốc tế, chứa đựng các quy tắc điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể LQT.
Quy phạm tập quán quốc tế được cấu tạo bởi 3 bộ phận là giả định, quy định và
chế tài. Giả định là những yếu tố tạo nên hoàn cảnh thực tiễn. Quy định là tổng
thể hành vi mà chủ thể LQT thực hiện. Khả năng phải gánh chịu trách nhiệm pháp
lý quốc tế khi các chủ thể này xử sự không đúng, hoặc không đầy đủ yêu cầu của
quy phạm tập quán quốc tế là chế tài của quy phạm tập quán quốc tế.
- Về chủ thể: Chủ thể của quy phạm tập quán quốc tế là chủ thể của LQT.
- Quá trình hình thành: Không thông qua hành vi ký kết mà nó được hình thành
trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được sự thừa nhận của các chủ thể LQT.
Các con đường hình thành tập quán quốc
tế: Quá trình hình thànhv tập quán quốc tế rất lâu dài và đòi hỏi phải có sự liên
tục. Không có một thước đo chung cho thời gian hình thành các tập quán, có thể
là 50-100 năm, hoặc nhiều hơn nữa, thậm chí hàng trăm năm. Tuy nhiên, tập quán
quốc tế chủ yếu hình thành theo các con đường sau:
- Con đường truyền thống: hình thành từ thực tiễn quan hệ quốc tế
VD: Các qui định liên quan đến quan hệ ngoại giao, lãnh sự cũng hình thành từ
nhu cầu bang giao giữa các quốc gia trên thế giới.
- Từ thực tiễn thực hiện các nghị quyết có tính chất khuyến nghị của các tổ
chức quốc tế.
VD: nghị quyết của Đại hội đồng LHQ số 3314 ngày 14/12/1974 đã chỉ rõ hành vi
xâm lược là hành vi của quốc gia này sử dụng bất hợp pháp lực lượng vũ trang để
tấn công vào lãnh thổ quốc gia khác...việc các quốc gia đồng tình với nghị
quyết trên về định nghĩa xâm lược đã thể hiện sự thừa nhận hiệu lực thực tế của
nghị quyết, để từ đó các quốc gia hành động theo những chuẩn mực được quy định
trong nghị quyết này. Điều này cũng có nghĩa là các quốc gia đã thừa nhận áp
dụng áp dụng tập quán quốc tế mới với tư cách là quy phạm pháp lý ràng buộc
mình.
- Từ thực tiễn thực hiện các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế
VD: Vụ tranh chấp giữa Nauy và Anh về quyền đánh cá trong khu vực biển ngoài
khơi Nauy đã hình thành nên tập quán quốc tế về cách thức xác định đường cơ sở
thẳng.
- Hình thành từ một tiền lệ duy nhất
VD: Năm 1975, Liên Xô là nước đầu tiên phóng tàu vào vũ trụ. Sự im lặng đồng
tình của các quốc gia cũng đồng nghĩa với sự công nhận một quy phạm tập quán
mới của LQT, đó là quy phạm tập quán về quyền bay qua không gây hại trong vũ
trụ bên trên khoảng không lãnh thổ của các quốc gia khác.
- Hình thành từ điều ước quốc tế: Từ điều ước quốc tế, tập quán quốc tế có 2
cách hình thành khác nhau: Thứ nhất, tập quán quốc tế được hình thành từ điều
ước quốc tế được pháp điển hóa. VD: Trước khi Công ước luật Biển có hiệu lực,
các quốc gia đã áp dụng như các tập quán.
Thứ hai, tập quán quốc tế được hình thành từ thực tiễn thực hiện điều ước quốc
tế của bên thứ 3.
VD: 2 quốc gia A và B thỏa thuận 1 điều ước liên quan đến việc tránh đánh thuế
2 lần, nước C thấy hợp lý nên áp dụng các quy định các quy định được C áp dụng với tư cách là
quy phạm tập"trong
điều ước này quán.
Ý nghĩa, vai trò của tập quán quốc tế:v
- Góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển các quy phạm
LQT.
- Điều chỉnh hiệu quả các quan hệ pháp luật quốc tế phát sinh giữa các chủ thể
LQT.
Điềuv kiện để một tập quán trở
thành nguồn của LQT: Không phải qui tắc xử sự nào hình thành trong thực tiễn
quan hệ quốc tế cũng trở thành nguồn của LQT. Những tập quán là nguồn của LQT
phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Quy tắc xử sự được coi là tập quán quốc tế phải lặp đi lặp lại nhiều lần,
trong một thời gian dài liên tục và được các quốc gia thỏa thuận thừa nhận hiệu
lực pháp lý bắt buộc đối với mình.
- Phải là quy tắc xử sự chung, hình thành trong quan hệ giữa các quốc gia, được
các quốc gia tuân thủ và áp dụng một cách tự nguyện..
- Quy tắc xử sự đó phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của
LQT.
(Yêu cầu đối với sinh viên: So sánh điều
ước quốc tế và tập quán quốc tế: về cơ bản có những nội dung sau:

- Giống nhau: Cả tập quán quốc tế và điều ước quốc tế đều là kết quả của sự
thống nhất ý chí của các chủ thể liên quan; chúng đều hình thành từ sự thỏa
thuận của các bên liên quan; đều là nguồn chứa đựng quy phạm pháp luật quốc tế;
là công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh quá trình hợp tác quốc tế.
- Khác nhau:
+ Về hình thức: - Điều ước quốc tế là thỏa thuận công khai và được thể hiện
dưới hình thức văn bản.
- Tập quán quốc tế là những thỏa thuận mang tính chất ngầm định, bất thành văn.

+ Tốc độ hình thành điều ước quốc tế nhanh hơn tập quán quốc tế vì tập quán
muốn được hình thành phải trải qua quá trình lâu dài thông qua nhiều sự kiện
liên tiếp, còn điều ước chỉ cần một sự kiện duy nhất là sự ký kết hay tham gia
của các chủ thể theo đúng trình tự, thủ tục. Thời gian hình thành điều ước
nhanh hơn, theo sát được sự vân động của các quan hệ quốc tế.
+ Vấn đề sửa đổi, bổ sung trong điều ước đơn giản hơn rất nhiều so với tập
quán, vì điều ước tồn tại dưới hình thức văn bản.
(Câu hỏi đặt ra: 1. Trong cùng một vấn đề, nếu tồn tại cả điều ước quốc tế và
tập quán quốc tế điều chỉnh thì áp dụng nguồn nào? Tại sao? Về nguyên tắc, việc
chọn áp dụng nguồn nào là do các bên thỏa thuận lựa chọn áp dụng. Tuy nhiên,
trong thực tiễn quan hệ quốc tế, nếu có sự xung đột pháp luật giữa hai loại
nguồn này, các bên hữu quan thường sẽ thỏa thuận để áp dụng các quy phạm điều
ước vì các quy phạm thể hiện trong điều ước quốc tế rõ ràng hơn, minh bạch hơn
và mức độ ràng buộc trách nhiệm cao hơn so với tập quán quốc tế. Trong điều
38(1) Quy chế tòa án công lý quốc tế có đưa ra một trật tự áp dụng các nguồn
của LQT, theo đó điều ước sẽ được áp dụng trước sau đó mới đến tập quán. Điều
này không tạo ra sự bất hợp lý, vì tòa án công lý quốc tế vốn không có thẩm
quyền đương nhiên, mà được các quốc gia thỏa thuận trao quyền. Do đó, đồng"việc đưa tranh chấp
ra giải quyết tại tòa là do sự tự nguyện của các bên ý đưa tranh chấp ra giải quyết tại tòa cũng
đồng nghĩa với việc các bên chấp nhận quy chế của tòa.
2. Khi một tập quán được pháp điển hóa vào một điều ước thì tập quán đó có còn
tồn tại với tư cách tập quán hay không? Tập quán đó vẫn tồn tại. Trong vụ các
hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragoa và chống lại Nicaragoa, Tòa án
quốc tế đã đưa ra nhận định (cũng có thể coi là lời giải thích cho vị trí của
tập quán quốc tế trong trường hợp này) rằng "việc các nguyên tắc tập quán
được pháp điển hóa hoặc được đưa vào các điều ước quốc tế đa phương không thể
nói rằng chúng đã chấm dứt tồn tại và được áp dụng như là những nguyên tắc của
tập quán quốc tế, ngay cả với các quốc gia là thành viên của các công ước
đó".
VD: nguyên tắc tự do biển cả, dù được pháp điển hóa trở thành nguyên tắc cơ bản
của Công ước Luật Biển 1982 nhưng nó vẫn tồn tại với tư cách là tập quán quốc
tế.
3. Trong quan hệ quốc tế hiện đại, với sự gia tăng các hình thức điều ước như
hiện nay, có khi nào tập quan mất vai trò của mình và bị thay thế hoàn toàn
bằng các điều ước hay không? Điều ước quốc tế dù hiện đại đến đâu cũng không
thay thế được sự tồn tại của các tập quán quốc tế. Đây là 2 loại nguồn có sự
độc lập nhất định và tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Nhiều
điều ước quốc tế có thời hạn 5năm, 10 năm hay nhiều hơn, khi hết hiệu lực này
điều ước không còn tồn tại, và nếu các bên vẫn muốn áp dụng những các quy định trong điều"quy
định trong điều ước mà không muốn ký kết điều ước ước được áp dụng sẽ trở thành tập quán quốc
tế.
3. Các phương tiện hỗ trợ nguồn của LQT
a. Nguyên tắc pháp luật chung
Đây là các nguyên tắc pháp lý được cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế
thừa nhận và được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia (theo điều
38(1) Quy chế tòa án công lý quốc tế). VD: nguyên tắc gây thiệt hạit hì phải
bồi thường, nguyên tắc không ai là quan tòa chính trong vụ việc của
mình...trong thực tiễn, nguyên tắc pháp luật chung chỉ áp dụng sau điều ước
quốc tế và tập quán quốc tế với ý nghĩa để giải thích hay làm sáng tỏ nội dung
của quy phạm LQT.
b. Phán quyết của Tòa án công lý quốc tế

- Trong đời sống quốc tế, tồn tại nhiều loại tòa án khác nhau như: Tòa án công
lý quốc tế của Liên hợp quốc, Tòa án nhân quyền Châu Âu, Tòa án luật biển, Tòa
án Châu Âu...Tuy nhiên, khi nói đến phán quyết của tòa án với vai trò là nguồn
bổ trợ của LQT, chúng ta chủ yếu đề cập đến các phán quyết của tòa án công lý
quốc tế.
- Bản thân các phán quyết là kết quả của quá trình áp dụng pháp luật của tòa án
trong quá trình giải quyết tranh chấp quốc tế, và các quyết định tài phán này
chỉ có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp. Điều 59 Quy chế Tòa án quy
định "Quyết định của tòa án có giá trị bắt buộc chỉ đối với các bên tham
gia vụ án và chỉ đối với các vụ án cụ thể đó". Sở dĩ các phán quyết này
không thể trở thành nguồn cơ bản của LQT vì các nguồn cơ bản phải được hình
thành trên cơ sở của sự thỏa thuận giữa các chủ thể LQT.
- Vai trò của các phán quyết: Từ một quy tắc, quy phạm chưa được giải thích,
còn chung chung, mơ hồ, khó hiểu, sau khi được các thẩm phán có trình độ và uy
tín cao giải thích, các quy tắc, quy phạm LQT sẽ trở lên rõ ràng, sáng tỏ hơn.
Đây là đóng góp quan trọng của các phán quyết của tòa án quốc tế đối với quá
trình giải thích LQT và tạo tiền đề cho sự hình thành các quy phạm mới (VD:
Trong vụ tranh chấp giữa Nauy và Anh. Phán quyết của tòa trong trường hợp này
đã tạo tiền đề cho sự hình thành quy phạm về việc xác định đường cơ sở thẳng
đối với các quốc gia có đường bờ biển khúc khuỷu trong quan hệ quốc tế liên
quan đến biển).
c. Nghị quyết của các tổ chức quốc tế

- Nghị quyết: Là văn bản do các cơ quan có thẩm quyền của tổ chức quốc tế thông
qua. ở đây, do LQT chỉ đề cập đến tổ chức quốc tế liên chính phủ nên các nghị quyết
là nguồn bổ trợ của LQT cũng chỉ dừng lại ở các nghị quyết của các tổ chức quốc
tế liên chính phủ, mà tiêu biểu là nghị quyết của Liên hợp quốc - tổ chức quốc
tế đa phương toàn cầu lớn nhất hiện nay.
- Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ được chia làm 2 loại:
+ Nghị quyết có giá trị bắt buộc: các nghị quyết này chủ yếu quy định các vấn
đề liên quan đến các đóng góp cho hoạt động cua tổ chức... những nghị quyết này
sẽ là nguồn luật được viện dẫn đến để giải quyết các quan hệ phát sinh giữa các
quốc gia thành viên của tổ chức đó.
+ Nghị quyết có tính chất khuyến nghị: nhằm hướng dẫn, giải thích các quy phạm
LQT và thể hiện cách nhìn của tổ chức quốc tế về một vấn đề nào đó.
(Câu hỏi đặt ra: Nghị"
quyết của tổ chức liên chính phủ có tính chất là điều ước quốc tế và được gọi
là điều ước quốc tế hay không? Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ
không được gọi là điều ước quốc tế vì nghị quyết được đưa ra nhân danh một chủ
thể nhất định, chứ không phải là sự thỏa thuận của các chủ thể. Do đó, mặc dù
nó có giá trị bắt buộc với các quốc gia thành viên, nhưng nó không phải điều
ước quốc tế.
- Trong quan hệ quốc tế, các chủ thể LQT thường quan tâm đến các nghị quyết của
Liên hợp quốc vì tính chất toàn cầu của tổ chức này. Lưu ý rằng, không phải mọi
nghị quyết của tổ chức liên chính phủ đều được xếp vào nhóm này, chỉ những nghị
quyết chứa đựng nội dung liên quan đến các vấn đề kinh tế, xã hội...còn những
nghị quyết có tính chất gây hại đến quan hệ giũa các quốc gia sẽ không được xếp
vào nhóm này. (Mọi nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đều có giá trị
ràng buộc với các quốc gia thành viên, ngoại trừ các nghị quyết liên quan đến
hành chính và thủ tục).
d. Hành vi pháp lý đơn phương của quốc
gia

- Đây là những hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể LQT. Hành vi đơn
phương của các quốc gia có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức: tuyên bố,
công hàm, phát biểu của các vị lãnh đạo Nhà nước, tuyên bố chung...bất cứ hành
vi nào cũng làm phát sinh nghĩa vụ đối với quốc gia đưa ra hành vi đó. Những
nghĩa vụ đó có thể là những nghĩa vụ mang tính chính trị, đạo đức. Việc từ chối
không thực hiện những cam kết đơn phương này sẽ làm giảm sút uy tín của quốc
gia trong quan hệ quốc tế. Hiện nay, các hành vi đơn phương ngày càng đóng vai
trò quan trọng.
- Về bản chất, hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia không được coi là nguồn
của luật quốc tế, vì nó không đảm bảo yếu tố "thỏa thuận" trong đó.
Tuy nhiên, nó sẽ trở thành nguồn bổ trợ của luật quốc tế khi hành vi đơn phương
này "có khr năng" tạo ra quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể khác trong
quan hệ quốc tế.
VD: Thụy sỹ đơn phương đưa ra tuyên bố sẽ trở thành quốc gia trung lập vĩnh
viễn.
Hành vi pháp lý đơn phương của chủ thể
LQT thườngv
có các dạng sau:
- Hành vi công nhận: là hành vi thể hiện một cách minh thị hoặc mặc thị ý định
xác nhận một tình hình hoặc yêu cầu nào đó phù hợp với pháp luật.
VD: - Việt nam công nhận Đông Timo là quốc gia độc lập, có chủ quyền.
- Ngày 1/10/2008 Somali cũng tuyên bố đang tiến hành chuẩn bị các thủ tục cần
thiết cho việc công nhận nền độc lập của hai khu vực mới ly khai khỏi Gruzia là
Nam Ossetia và Apkhazi thông qua tuyên bố đơn phương muốn thiết lập quan hệ
ngoại giao với các khu vực này.
- Hành vi cam kết: là hành vi tạo ra các nghĩa vụ pháp lý mới bằng cách đơn
phương chấp nhận ràng buộc với một nghĩa vụ pháp lý quốc tế vì quyền lợi của
chủ thể khác.
VD: Tuyên bố của chính phủ Ai Cập năm 1957 về việc cho phép tàu thuyền qua lại
tự do trên kênh đào Xuy-ê.
- Hành vi phản đối: là cách thức một quốc gia thể hiện ý chí không công nhận
một hoàn cảnh, một yêu cầu hoặc một thái độ xử sự của chủ thể khác. Hành vi này
phải được biểu thị minh thị, do cơ quan có thẩm quyền tiến hành.
VD: phản đối hành vi công nhận nền độc lập của Nam Ossetia và Apkhazia từ phía
Nga, đại diện của Mỹ (cụ thể là tổng thống và ngoại trưởng Mỹ) đã phát biểu
công khai yêu cầu Nga phải xem xét lại hành vi công nhận của mình và cho rằng
việc Nga công nhận nền độc lập của 2 khu vực này là đi ngược lại với các qui
định của pháp luật quốc tế, đồng thời Mỹ cũng đưa ra tuyến bố rằng sẽ sử dụng
quyền phủ quyết của mình để ngăn chặn mọi xử sự không phù hợp của Nga nhằm công
nhận hoặc thiết lập quan hệ với 2 khu vực này.
- Hành vi từ bỏ: là hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể tự nguyện từ bỏ
các quyền hạn nhất định.
VD: trường hợp của Thụy sỹ, hoặc Nhật bản sau chiến tranh thế giới thứ II đã
tuyên bố từ bỏ chủ quyền của mình đối với quần đảo Fonmôsa.
e. Các học thuyết của các học giả danh
tiếng về LQT

- Các học thuyết về LQT là những tư tưởng, quan điểm thể hiện trong các công
trình nghiên cứu, tác phẩm và kết luận của các tác giả về những vấn đề lý luận
cơ bản của LQT. Do vậy, trong các học thuyết này đôi khi lại đưa ra các kiến
giải góp phần làm sáng tỏ nội dung của các quy phạm pháp luật quốc tế và giúp
các chủ thể LQT áp dụng chúng dễ dàng hơn.
- Các học thuyết của các học giả danh tiếng về LQT không phải là nguồn cơ bản
của LQT vì: chúng không phải văn bản pháp lý ràng buộc các quốc gia, không thể
hiện ý chí của các quốc gia được nâng lên thành luật; bản thân các học thuyết
này không chứa đựng các quy phạm pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho
các quốc gia; chúng không được áp dụng một cách thường xuyên trong quan hệ quốc
tế. Tuy vậy, các học thuyết này được coi là nguồn bổ trợ của LQT vì những ảnh
hưởng tích cực của chúng đến quá trình phát triển của LQT và quá trình nhận
thức của con người về khoa học luật quốc tế.
VD: Các luận điểm trong tác phẩm "Biển quốc tế" của tác giả Hugues
Grotius có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng Luật biển quốc tế.
4. Mối quan hệ giữa các loại nguồn
a. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và
tập quán quốc tế: Đây là 2 loại nguồn chính,
cơ bản của LQT, chúng tồn tại
độc lập với nhau trong hệ thống nguồn của LQT (điều ước không có ý nghĩa loại
bỏ hiệu lực áp dụng của tập quán; quá trình pháp điển hóa tập quán không làm
mất đi tập quán đã được pháp điển hóa trong điều ước quốc tế), nhưng giữa chúng
lại có mối quan hệ tương tác, biện chứng với nhau. Điều này thể hiện ở chỗ:
• Trong quá trình xây dựng quy phạm luật quốc tế
- Tập quán quốc tế có ý nghĩa là cơ sở để hình thành điều ước quốc tế thông qua
quá trình pháp điển hóa. Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của
LQT cho phép khẳng định rằng, nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ
quy phạm tập quán quốc tế.
VD: các quy định về quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, lãnh sự xuất phát từ
nguyên tắc tồn tại từ thời phong kiến là "không giết hại sứ thần",
ban đầu quy định này tồn tại dưới dạng tập quan quốc tế, sau được pháp điển hóa
thành điều ước.
- Điều ước quốc tế là cơ sở hình thành tập quán thông qua thực tiễn ký kết và
thực hiện điều ước quốc tế
VD: - trường hợp bên thứ 3 áp dụng các quy phạm trong hiệp định song phương
• Trong quá trình thực hiện LQT
- Việc tồn tại điều ước quốc tế không có ý nghĩa loại bỏ giá trị áp dụng của
tập quán quốc tế tương đương về nội dung. Cả điều ước quốc tế và tập quán quốc
tế đều được hình thành từ sự thỏa thuận của các chủ thể LQT, do đó chúng có giá
trị pháp lý ngang nhau, cùng song song tồn tại.
VD: nguyên tắc tự do biển cả tồn tại ở cả 2 hình thức là tập quán và điều ước
- Quy phạm tập quán có thể bị thay đổi, hủy bỏ bằng con đường điều ước và ngược
lại cũng có trường hợp điều ước quốc tế bị hủy bỏ hoặc thay đổi bằng con đường
tập quán.
VD: tập quán này sẽ"Tập
quán có nội dung trái với quy phạm Jus Cogens mới ra đời bị hủy bỏ.
điều"VD: Xuất hiện quy
phạm Jus Cogens mới dưới dạng tập quán
ước bị hủy bỏ
- Tập quán có thể tạo điều kiện để mở rộng hiệu lực của điều ước quốc tế trong
trường hợp các chủ thể của LQT không phải là thành viên của điều ước nhưng có
quyền viện dẫn đến quy phạm điều ước với tính chất là tập quán quốc tế áp dụng
cho bên thứ ba.
VD: Hiệu lực của điều ước với bên thứ 3 do viện dẫn các quy phạm của điều ước
dưới dạng tập quán quốc tế.
Mối quan hệ[ trên đây khẳng định tính
độc lập tồn tại của 2 loại nguồn cơ bản của LQT, đồng thời khẳng định mối quan
hệ qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng trong các quan hệ quốc tế.
b. Mối quan hệ giữa nguồn cơ bản và phương
tiện hỗ trợ nguồn

- Nguồn cơ bản: Hình thành từ sự thỏa thuận của các chủ thể LQT. Nó chứa đựng
các quy phạm pháp lý quốc tế và có giá trị rang buộc đối với các chủ thể LQT.
- Phương tiện hỗ trợ nguồn: có thể chứa đựng quy phạm pháp lý quốc tế, nhưng đa
phần là không chứa các quy phạm. Nó không được hình thành từ sự thỏa thuận,
trong nhiều trường hợp nó không có giá trị ràng buộc.
- Giữa nguồn cơ bản và phương tiện hỗ trợ có mối quan hệ qua lại, hỗ trợ cho
nhau. Điều này thể hiện ở chỗ:
- Nguồn hỗ trợ đóng vai trò là phương tiện hỗ trợ cho nguồn cơ bản, thông qua
các phương tiện này người ta xây dựng các quy phạm LQT nhanh chóng hơn.
- Nguồn hỗ trợ có vai trò trong việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật
quốc tế trong từng trường hợp cụ thể. Góp phần làm sáng tỏ các quy định của
LQT, tạo tiền đề quan trọng để các chủ thể LQT có cơ hội tiếp cận và giải thích
LQT theo nghĩa chung thống nhất.
- Các chủ thể của LQT có thể viện dẫn các phương tiện hỗ trợ (phán quyết của
tòa án) để xác định trách nhiệm của các chủ thể liên quan.
VD: Dựa vào phán quyết của tòa án quốc tế về việc giải quyết tranh chấp giữa
Thái Lan và Campuchia liên quan đến đền Preah Vihear, Thái Lan không thể khẳng
điịnh ngôi đền đó thuộc về mình.
- Một số quy phạm trước đây đã tồn tại trong nguồn hỗ trợ, tùy từng trường hợp
nó có thể trở thành nguồn cơ bản của LQT.
VD: phán quyết của tòa án quốc tế trong vụ giải quyết tranh chấp ngư trường Anh
- Nauy. Từ phán quyết này của tòa án, rất nhiều quốc gia có đường bờ biển khúc
khuỷu như của Nauy đã áp dụng phương pháp đường cơ sở Như vậy, ban đầu phán quyết"thẳng
để xác định các vùng biển của quốc gia mình
này của tòa án quốc tế chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh
chấp, nhưng trở thành"sau
đó nó được sử dụng rộng rãi và được cộng đồng quốc tế thừa nhận được ghi nhận trong công ước Luật Biển."tập
quán quốc tế
IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT QUỐC TẾ VÀ LUẬT QUỐC GIA
1. Cơ sở tồn tại mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia
(Câu hỏi đặt ra: Khi quy phạm luật quốc tế không tương xứng với quy phạm luật
quốc gia, dẫn đến sự xung đột pháp luật, trong trường hợp này sẽ áp dụng quy
phạm nào? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta sẽ tìm hiểu mối quan hệ giữa
Luật quốc gia và Luật quốc tế.
a. Một số học thuyết liên quan
- Luật quốc tế và Luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật tồn tại song song và
có mối quan hệ biện chứng với nhau, quan điểm này hiện nay được hầu hết các
quốc gia trên thế giới thừa nhận. Tuy nhiên, liên quan đến việc giải quyết mối
quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia cũng còn tồn tại một số các học
thuyết khác nhau.
Học thuyết nhất nguyên luận: Học thuyết
nàyv
ra đời vào thời kỳ CNTB chuyển sang chủ nghĩa đế quốc. Các quốc gia đưa ra học
thuyết này chủ yếu để phục vụ cho âm mưu bành trư

_________________
TƯ VẤN LUẬT 24/24 - SẴN SÀNG GIÚP ĐỠ BẠN GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC, VÀ TRANH TỤNG TẠI TÒA -
VỚI TINH THẦN "TẤT CẢ VÌ LỢI ÍCH CHÍNH ĐÁNG CỦA BẠN!".

LIÊN HỆ: 01688793966
View user profile http://tuvanluat.forumvi.com

Thích

Báo xấu [0]

Gửi một bình luận lên tường nhà Admin

Back to topMessage [Page 1 of 1]

« Xem bài trước | Xem bài kế tiếp »

Bài viết mới cùng chuyên mục

      Quyền hạn của bạn:

      You cannot reply to topics in this forum